Ly hôn có đòi được tiền lương đã góp trong thời kỳ hôn nhân được không?

Câu hỏi: Kính gửi phía văn phòng luật sư uy tín chuyên lĩnh vực Hôn nhân và gia đình.

Hai vợ chồng tôi cùng công tác tại một cơ quan. Sau khi kết hôn, chúng tôi có thỏa thuận (bằng miệng) là tôi sẽ là người lĩnh lương của cả 2 vợ chồng để chi tiêu toàn bộ công việc và sinh hoạt phí của cả gia đình bao gồm: mẹ chồng tôi, 2 vợ chồng và 2 đứa con. Do chồng tôi có mối quan hệ với người phụ nữ khác nên thường xuyên đi sớm về khuya nhưng hàng ngày ông ấy vẫn về nhà. Tuy nhiên, chồng tôi không ăn cơm ở nhà cùng gia đình nữa mặc dù tôi vẫn nấu cơm cho ông ấy. Hàng ngày, tiện nghi sinh hoạt của gia đình (điện, nước) ông ấy vẫn sử dụng bình thường.

Kể từ khi chồng tôi có quan hệ với người phụ nữ khác đến nay đã hơn chục năm. Bây giờ ông ấy đơn phương xin ly hôn và kiện tôi để đòi lại ½ số lương (khoảng hơn 200 triệu) của hơn chục năm nay. Mặc dù từ trước đến giờ chưa bao giờ chồng tôi đòi tôi phải trả lại lương của ông ấy. Tôi xin các luật sư tư vấn cho tôi:

  1. Tôi có trách nhiệm phải trả lại cho chồng tôi số tiền đó không trong khi tôi đã sử dụng số tiền đó để lo cho gia đình và nuôi các con?
  2. Chồng tôi kiện tôi đã chiếm giữ số tiền đó của ông ấy là đúng hay sai?

Tôi xin chân thành cảm ơn các Luật sư!

Trả lời:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Dragon. Với câu hỏi này của chị, chúng tôi có hướng giải quyết cho chị như sau:

1.Với yêu cầu của chồng chị yêu cầu chị trả lại ½ số tiền lương (khoảng hơn 200 triệu) thì yêu cầu này của chồng chị là không có căn cứ. Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2.Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3.Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như chị trình bày ở trên thì chị sử dụng số tiền lương của hai vợ chồng để chăm lo cho gia đình và nuôi các con. Đó có thể hiểu số tiền đó được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Hiện tại số tiền đó cũng không còn. Vì vậy, chồng chị không có căn cứ để đòi lại số tiền đó. Khi ra Toà chị cứ trình bày là chị dùng số tiền đó vào mục đích nuôi mẹ chồng và hai đứa con. Để an toàn chị nộp các tài liệu thể hiện chi tiêu cho mẹ chồng và hai con.

2. Trong trường hợp chồng chị kiện chị việc chiếm giữa tài sản của anh ấy thì việc khởi kiện này là không cơ cơ sở. Vì như đã trình bày ở trên thì lương của chồng chị là tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ theo Điều 213 Bộ luật dân sự 2015quy định về sở hữu chung của vợ chồng: “Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

Theo quy định này thì vợ chồng chị có quyền thỏa thuận về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tiền lương của chồng chị. Mà trong trường hợp này, hai vợ chồng chị đã thỏa thuận với nhau chị là người lấy lương của hai vợ chồng để chi tiêu cho sinh hoạt của gia đình. Tuy chỉ là thỏa thuận bằng miệng nhưng sự việc đã diễn ra nhiều năm, chồng chị cũng không có ý kiến nên có thể ngầm hiểu rằng chồng chị đồng ý với thỏa thuận đó.

Do đó, chồng chị không có căn cứ để kiện chị về việc chị chiếm giữ tiền lương của chồng chị.

—————————————–

Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ

Công ty Luật TNHH Dragon

Hotline: 1900599979

Văn phòng Luật sư tại Hà Nội: Phòng 14.6, Tầng 14, Tòa nhà Vimeco, đường Phạm Hùng, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.

Văn Phòng Luật Sư tại Hải Phòng: Phòng 4.6 Tòa nhà Khánh Hội, Lô 2/3C đường Lê Hồng Phong, quận Ngô Quyền, Hải Phòng.

Văn phòng Luật sư Dragon hân hạnh được mang đến cho Quý khách hàng những dịch vụ pháp lý tốt nhất.

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

© 2018 - Bản quyền thuộc Công ty Cổ phần GLC Việt Nam