Những điểm mới của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 về chế định quyền tài sản trong ly hôn

tải xuống (69)

Khi kết hôn: Quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng; chủ yếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể: Việc thỏa thuận phải được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn. Thỏa thuận này vẫn có thể được thay đổi sau khi kết hôn. Quy định này sẽ làm giảm thiểu sự tranh chấp tài sản sau ly hôn của các cặp vợ chồng trong tình hình hiện nay.

Được thỏa thuận về tài sản khi ly hôn: Cụ thể, về tài sản chung của vợ chồng, theo luật thì đó là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất – kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đối với quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng, cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Luật cũng quy định rõ, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Bên cạnh đó, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cũng quy định cụ thể cách giải quyết về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng các bên khi nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên. Trong trường hợp không có thỏa thuận, thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Không tính thời gian chung sống như vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn vào thời kỳ hôn nhân.

Giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn: Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong Luật HNGĐ năm 2014 đã chia ra làm 2 trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định và chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận để đưa ra các nguyên tắc giải quyết phù hợp nhất. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong Luật HNGĐ năm 2014 có điểm nổi bật hơn so với Luật HNGĐ năm 2000 đó là có tính đến yếu tố yếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Điều phần sẽ phần nào cảnh tỉnh những người có ý định vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, nâng cao trách nhiệm đối với gia đình của vợ, chồng. Bên cạnh đó, Luật HNGĐ năm 2014 còn bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn nhằm thống nhất với quy định về bảo về quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong Bộ luật dân sự. Ngoài ra, trong luật mới cũng quy định thêm quyền lưu cư cho vợ, chồng mà sau khi ly hôn gặp khó khăn về chỗ ở và quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh nhằm làm cho hoạt động kinh doanh của vợ, chồng không bị gián đoạn sau khi ly hôn, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Tóm lại, với những quy định mới Luật HNGĐ 2014 sẽ góp phần giải quyết được phần nào các vấn đề còn tồn tại những bất cập trong chế định ly hôn trong luật HNGĐ năm 2000, đảm bảo hơn quyền lợi của vợ, chồng và con chưa thành niên trong thực tiễn các vụ án ly hôn. Đồng thời cũng là tạo sự đồng bộ, thống nhất quy định của các luật khác nhau trong hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay.

Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.599.979

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

© 2018 - Bản quyền thuộc Công ty Cổ phần GLC Việt Nam