Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về chế định quyền ly hôn

1. Căn cứ cho ly hôn.

Với việc chuyển căn cứ lý hôn từ Điều luật riêng vào trong quy định của điều ly hôn theo yêu cầu của một bên trong luật năm 2014 và việc đưa ra những nguyên nhân của hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được để cụ thể hóa căn cứ cho ly hôn “vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án khi giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của một bên. Điều này cũng tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết việc ly hôn trong cả nước.ly hon don phuong2

Bên cạnh đó, so với Luật HNGĐ năm 2000 thì Luật HNGĐ năm 2014 sử dụng kỹ thuật lập pháp chặt chẽ hơn (ở luật năm 2000 quy định Tòa án “xét thấy ….. thì Tòa án quyết định cho ly hôn” điều này cho thấy có ý chí chủ quan của Tòa án khi giải quyết việc ly hôn còn ở Luật HNGĐ năm 2014 quy định rất cụ thể “Khi vợ hoặc chồng … Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ… mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Ngoài ra, trong Luật HNGĐ năm 2014 còn quy định cụ thể thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân là ngày Bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật và trách nhiệm của Tòa án phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho các tổ chức, cá nhân có liên quan.

2. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Khi so sánh với Luật HNGĐ năm 2000, có thể thấy quyền yêu cầu ly hôn trong Luật HNGĐ năm 2014 đã được mở rộng hơn. Theo đó, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì trong quy định tại khoản 2, Điều 51 Luật HNGĐ 2014 “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.” Như vậy thì cha, mẹ, người thân thích khác của một trong hai bên vợ chồng sẽ chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một trong hai bên vợ chồng vừa là người bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không làm chủ được hành vi của mình và vừa phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Điều này sẽ giải quyết được những bất cập của Luật HNGĐ năm 2000 đối với trường hợp vợ (chồng) mắc bệnh tâm thần bị người kia hành hạ, tra tấn nhưng họ lại không đủ tư cách để yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

© 2018 - Bản quyền thuộc Công ty Cổ phần GLC Việt Nam